Bà em sợ quá, bắt cậu đem trả cho thằng Bột, nhưng xác nó đã theo bố chìm xuống sông. Cậu em đem chôn cái ngón tay cạnh gốc hồng bì trong vườn sau nhà bà…
Mọi người nhà em nghe cậu D kể mà đâm ra kinh hãi.
Cậu D. kể xong càng tỏ ra đăm chiêu, đứng dậy chửi đỏng “ĐM, để tao xem mày là thần thánh phương nào”, rồi bỏ vào bếp lấy cái chép, cầm đèn pin phăm phăm đi ra chỗ trồng cây hồng bì năm xưa. Mọi người bảo 40 năm rồi, bao mùa nước lên, nước rút, cây hồng bì cũng đã chặt rất lâu, làm gì còn gì mà đào với bới.
Thế nhưng cậu D. vẫn hằm hằm đi ra chỗ vườn bà, rọi đèn vào đoạn chỗ gốc cây ngày trước mà đào lấy đào để. Đào rộng sang cả hai bên, miệng cậu không ngớt chửi rủa, khóe mép sùi bọt như bị dại. Mợ L sợ lắm, chạy vào van xin và giật cái chép ra. Cậu em chẳng nói gì, gạt mọi người ra rồi gầm lên “Đứa nào bước vào đây tao chém chết hết!” Cái chép vung loang loáng, mặt cậu em dại đi dưới ánh đèn pin.
Đột nhiên thấy bà em đứng ở cửa phòng, gọi giật tên cậu, rồi sấn sổ đi đến ôm chặt ngang hông. Được một lúc thì cậu em đờ đẫn đi rồi bình tĩnh lại. Bà em bảo mọi người lên hết phòng khách nhà cậu C có chuyện cần nói…
Cậu C. đang ngồi trầm ngâm hút thuốc. Lúc này cậu em mới kể.
Đêm hôm đấy, lúc con Linh ré lên, cậu em cũng giật mình thức dậy. Lúc sau có người đen sì mở cửa phòng cậu mà đi thẳng đến giường, chìa ra cái gói. Lúc đến gần, trong bóng tối mờ mờ, cậu em thấy vết chém sâu trên mặt, làm cái đầu hơi tách ra, kinh hoàng nhận ra thằng Bột! Thằng Bột nhìn cậu 1 lúc, rồi chẳng hiểu sao cất tiếng nói “Nhà mày có 2 ác linh” Cái vết chém dao trên đầu cứ kêu tong tỏng. “Có con chó thành tinh ngoài vườn, nó muốn giết mẹ con nhà mày”
“Đừng chôn nữa, cầm lên mà yểm”
Rồi nó biến vụt đi mất. Lúc đấy mọi người mới ập vào.
Từ hồi bà đem cái ngón tay đi, tiếng lục đục cũng hết, nhưng cũng chẳng có ai dám mò lên nữa.
Chỉ còn cái ác linh thứ 2…
Câu chuyện thứ 17: CÁI GIẾNG.
Hầu như làng quê nào ở miền Bắc cũng có một con sông của riêng mình. Cũng như vậy, dân làng Bắc Biên trăm đời nay sống chung với những đợt nước lên xuống đều đặn của sông Hồng. Con sông chở cho làng em nguồn sống, và cả những xác người chết trôi trương phềnh mỗi đợt lũ về. Cái khúc sông đấy, ngay bản thân nó cũng chứa đựng những thứ kỳ dị. Dù những con nước đấy có cướp đi bao mạng người làng em, nhưng họ cũng không hề vì thế mà oán trách, chỉ cố tránh xa nước sông vào những giờ nhất định trong ngày…
Như mọi vùng quê khác, nhà nào cũng có một cái giếng; phần vì để lấy nước cho tiện, phần cũng hạn chế ra sông vào những giờ bất khả kháng. Cái sản nghiệp bên ngoại em là do cụ xây. Cụ em làm cho chế độ cũ, nên cũng vì thế nhà xây theo kiểu phương tây. Cụ bảo ăn nước giếng không sạch, bảo người xây một cái bể nước mưa to đùng trong vườn.
Năm ông ngoại lấy bà em, nhờ bạn bè trong làng cùng đào cái giếng. Cái giếng ở mảnh sân nhỏ dưới chân cầu thang nhà cậu D., cạnh cái chuồng chó, đối diện cửa ra vườn sau. Chẳng biết ông đào thế nào mà quanh năm, dù nước lên hay xuống, mưa to hay hạn hán thì mực nước trong giếng vẫn không thay đổi. Cứ lưng lửng ở giữa, chẳng đầy hơn mà cũng chẳng vơi đi bao giờ. Nước trong giếng cũng lạ, lấy nước ở sông mà múc lên gầu nào gầu nấy trong vắt, chẳng có tí gợn đỏ phù sa. Cả nhà lấy thế làm mừng lắm, chỉ có ông ngoại em thỉnh thoảng nén tiếng thở dài, và chẳng tỏ ra vui thú gì cả.
Người chết luôn sống chung với người sống. Họ đi cùng, ngồi cùng, đôi khi là nhìn chằm chằm vào người sống gây ra cảm giác rùng mình hay đột nhiên nổi da gà. Bà em bảo, những nơi thê thảm, chứa đựng ít linh khí của đất trời thường là nơi hồn ma bóng quế tụ tập. Đối với làng em, chỗ đấy không phải bãi tha ma, mà là đoạn bờ sông nơi chôn những cái xác thối rữa trôi về làng mỗi đợt nước lên.
“Đất có Thổ công, sông có Hà bá”. Khu đất nào cũng có thần linh trấn yểm, và cả vía của những người sống trên đó nữa.
Ông em đào xong cái giếng trong vườn được 5 năm, năm 62 bà ngoại em sinh cậu C, trong làng có đứa chết đuối. Hồi đấy vườn rộng, trồng nhiều cây trái, lại rào thưa nên trẻ con hay sang nhà ông bà em bẻ trộm chuối, khế hay chơi trốn tìm ngoài bờ tre. Thằng bé cùng làng mò vào trốn, giữa trưa nắng, chẳng hiểu đi đứng thế nào mà lộn cổ xuống giếng nhà em. Đến tối mẹ nó đi tìm, khóc lóc thảm thiết, cả làng đổ ra sông mò. Mò đến trưa hôm sau vẫn không thấy…Lúc này mới vào nhà em múc nước rửa chân, cái gầu rơi xuống đập cộp vào đầu thằng bé. Xác nó vớt lên, làng giữ chặt không cho mẹ nó vào gần. Đấy là thông tục của dân chài lưới. Phàm người chết đường chết chợ, đặc biệt là chết trôi sông, thì phải táng ở ngoài đường, cấm không cho mẹ đến gần. Giữ được một lúc thì bà mẹ nó vùng ra được, chạy lại ôm xác con. Bất chợt thằng bé co giật mạnh, từ các lỗ trên mặt nó, miệng, tai, mũi, và 2 hốc mắt, máu tươi chảy ra thành dòng, hòa với nước rơi lại vào giếng nhà em tong tỏng…